Trang chủ > Luật, TIẾNG TRUNG, XÃ HỘI > Con lai Đài Việt từ bỏ quốc tịch Đài Loan còn khó hơn lên trời.

Con lai Đài Việt từ bỏ quốc tịch Đài Loan còn khó hơn lên trời.

Gần 80% người nước ngoài nhập quốc tịch Đài Loan là người Việt, trong đó đa số là cô dâu Việt Nam. Hàng ngàn cô dâu Việt Nam do hôn nhân tan vỡ hoặc một lý do nào đó đành phải ôm con quay về với mẹ.  Những đứa con lai đó, một khi đã mang quốc tịch Đài Loan, mang thân phận công dân ngoại quốc sẽ mất đi cơ hội được học tập. Luật Quốc tịch hai nước vẫn còn rất vênh nhau và quyền lợi của những đứa con lai vẫn chưa được bảo vệ.

colai

Ẩnh internet

Một đứa trẻ là con lai trong cuộc hôn nhân giữa đàn ông Đài Loan và phụ nữ Việt Nam, có trong tay cuốn hộ chiếu của Trung Hoa Dân Quốc tức đã mang quốc tịch Đài Loan, khi cùng mẹ quay về Việt Nam sinh sống, cho dù có được Chủ tịch nước Việt Nam cho phép nhập quốc tịch Việt Nam, thì đứa trẻ đó cũng không thể nào thay đổi được quốc tịch Đài Loan đang có của mình, để được hưởng quyền lợi như một đứa trẻ Việt Nam trên đất mẹ. Sự thực này đang là bất cập lớn của Luật Quốc tịch Đài Loan, làm hàng nghìn đứa con lai Đài Việt mất quyền lợi học hành khi chúng theo mẹ về Việt Nam.

Điều 11 của Luật Quốc tịch Đài Loan quy định:

“Công dân Trung Hoa Dân Quốc là người thuộc một trong các trường hợp sau đây, được Bộ Nội chính đồng ý,  thì mất quốc tịch Trung Hoa Dân Quốc:

  • Cha đẻ là người nước ngoài, do cha đẻ chọn quốc tịch nước đó.
  • Người cha không thể xác định, hoặc cha đẻ không chọn, mẹ là người nước ngoài.
  • vợ hoặc chồng của người nước ngoài.
  • con nuôi của người nước ngoài.
  • Người đủ 20 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự theo luật pháp Trung Hoa Dân Quốc, tự nguyện có được quốc tịch nước ngoài. Người mất quốc tịch Trung Hoa Dân Quốc thuộc những điều quy định ở trên, con cái tuổi vị thành niên của người đó, được Bộ Nội chính đồng ý, cũng mất quốc tịch Trung Hoa Dân quốc theo bố mẹ”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, trẻ em muốn nhập quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch Đài Loan, nhưng để thôi quốc tịch Đài Loan thì đứa trẻ đó theo như Luật Quốc tịch Đài Loan quy định phải đợi đến khi đủ 20 tuổi. Vậy thì còn đâu tuổi thơ mà học hành.

Tuy nhiên, theo “kẽ hở” của Điều 11 Luật Quốc tịch Đài Loan có thể có 3 cách sau đây để trẻ em từ bỏ quốc tịch Đài Loan mà không cần phải đợi đến năm trẻ đủ 20 tuổi:

Cách thứ nhất:  Là con nuôi của người nước ngoài. Theo cách này thì bố mẹ của trẻ em làm thủ tục cho đứa trẻ đó làm con nuôi của một người Việt Nam ,  sau đó làm thủ tục thôi quốc tịch Đài Loan cho trẻ.

Cách thứ hai: Bố trẻ em từ bỏ quốc tịch Đài Loan để nhập quốc tịch Việt Nam, trẻ em sẽ tự động được nhập quốc tịch Việt Nam theo bố, sau đó bố đứa trẻ lại xin nhập lại quốc tịch Đài Loan.

Cách thứ ba: Nếu tại Việt Nam, mẹ đứa trẻ dấu đi hộ chiếu Đài Loan của trẻ, làm cách nào đó kiếm được một tờ Giấy chứng sinh của Việt Nam để làm đăng ký khai sinh tại Việt Nam cho trẻ (cách này là bất hợp pháp).

Việt Nam cũng đã bàn nhiều đến quyền lợi của những người phụ nữ lấy chồng ngoại, xót xa nhiều cho những đứa trẻ của những cuộc hôn nhân tan vỡ. Nhưng pháp luật thì vẫn còn đó những bất cập.

Tham khảo thêm Điều 12, Điều 13 Luật Quốc tịch Đài Loan:

Điều 12: Người làm đơn xin mất quốc tịch theo quy định tại Điều 11, thuộc 1 trong các trường hợp sau đây, Bộ Nội chính không được đồng ý cho mất quốc tịch:

Nam giới từ đủ 15 tuổi tính từ 01/01 năm sau, chưa được miễn nghĩa vụ quân sự, chưa phục vụ trong quân ngũ. Nhưng, công dân là Hoa kiều cư trú tại nước ngoài, sinh ở nước ngoài không có hộ tịch ở trong nước hoặc người đủ 15 tuổi trước ngày 31/12 năm đó chuyển ra nước ngoài sinh sống, không thuộc quy định này.

Người đang phục vụ trong quân đội;

Là Cán bộ công chức tại nhiệm tại Trung Hoa Dân Quốc.

Điều 13: Người thuộc một trong các trường hợp sau, mặc dù phù hợp với quy định tại Điều 11, nhưng không được mất quốc tịch:

Là bị cáo đang trong quá trình điều tra, xét xử;

Người chưa hoàn thành hình phạt tù;

Là bị cáo dân sự;

Là người đang chịu chấp hành cưỡng chế, chưa kết thúc;

Là người bị tuyên bố phá sản chưa được phục hồi quyền;

Là người còn nợ thuế hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp phạt tiền thuế.

第 11 條 : Điều 11

中華民國國民有下列各款情形之一者,經內政部許可,喪失中華民國國籍:

一、生父為外國人,經其生父認領者。

二、父無可考或生父未認領,母為外國人者。

三、為外國人之配偶者。

四、為外國人之養子女者。

五、年滿二十歲,依中華民國法律有行為能力人,自願取得外國國籍者。依前項規定喪失中華民國國籍者,其未成年子女,經內政部許可,隨同喪失中華民國國籍。

第 12 條

依前條規定申請喪失國籍者,有下列各款情形之一,內政部不得為喪失國籍之許可:

一、男子年滿十五歲之翌年一月一日起,未免除服兵役義務,尚未服兵役者。但僑居國外國民,在國外出生且於國內無戶籍者或在年滿十五歲當年十二月三十一日以前遷出國外者,不在此限。

二、現役軍人。

三、現任中華民國公職者。

第 13 條

有下列各款情形之一者,雖合於第十一條之規定,仍不喪失國籍:

一、為偵查或審判中之刑事被告。

二、受有期徒刑以上刑之宣告,尚未執行完畢者。

三、為民事被告。

四、受強制執行,未終結者。

五、受破產之宣告,未復權者。

六、有滯納租稅或受租稅處分罰鍰未繳清者。

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: