Trang chủ > CÁ NHÂN > Một chút về thiền và chánh niệm

Một chút về thiền và chánh niệm

thien

Ngày trước tôi ở cùng phòng với một anh bạn tên Bình. Buổi tối trước khi làm việc, anh ấy thường “trồng cây chuối” một lúc. Anh ấy nói: làm thế để cho máu xuống não nhiều hơn để làm việc hiệu quả hơn. Việc này tôi không làm theo và cũng không tìm hiểu xem thực sự có khoa học không. Tôi đang muốn nói về “thiền”. Cái kiểu thiền ngược đời này tôi chưa từng gặp.
Thời sinh viên, tôi nhớ có tham dự một buổi thuyết giảng về phương pháp “học ngoại ngữ bằng thiền”. Tôi nhớ như in từ “table” cả cách phát âm và nghĩa của nó trong một ví dụ mà người giảng (có thể là giáo sư Lê Khánh Bằng) lúc đó làm mẫu.

Nhưng về sau, tôi ít khi để ý đền thiền. Tôi cũng không giải thích được “thiền” thực sự là gì ngoài hình ảnh một người ngồi tĩnh lặng trong tư thế xếp bằng, hai tay để ngửa trên 2 đầu gối chân, mắt nhắm lại. Hình ảnh này tôi gặp nhiều trong những phim “kiếm hiệp” khi các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm tọa thiền. Đa phần những vị cao tăng này đều có trí tuệ hơn người.
Gần đây tôi biết đến Yoga, nhưng tôi không quan tâm lắm. Tôi chỉ nghĩ Yoga cũng là một kiểu thiền. Tôi có vẻ hiểu theo ý: Yoga là hướng dẫn con người cách thở như thế nào. Rồi tôi lại thấy nhiều phụ nữ tham gia lớp tập Yoga, thấy hình ảnh cơ thể họ uốn éo được theo nhiều kiểu. Tôi nghĩ Yoga giống như một môn thể thao rèn luyện thân thể. Điều này khiến tôi nghĩ Yoga khác với “thiền” mà trước nay tôi cứ cho thiền là phải “tĩnh lặng” và thường tập trung vào rèn “trí tuệ”.
Gần đây tôi nghiên cứu một chút về Phật học. Tôi bắt gặp từ “chánh niệm” và khó khăn lắm tôi mới hiểu được “chánh niệm” là “nhìn sâu để hiểu được bản chất của sự vật”. Thích Ca đã nhìn sâu vào mọi sự vật, hiện tưởng và hiểu được bản chất thực sự của chúng là “không sinh không diệt”, tức mọi thứ đều không sinh ra cũng không chết đi, tất cả là một quá trình chuyển hóa liên tục. Do đó, nhiều người hiểu Niết Bàn là thoát khỏi vòng chuyển hóa đó, thoát khỏi “luân hồi”. Nhưng thực sự giác ngộ tối cao của Thích Ca lại là chỗ “mọi vật đều không sinh không diệt”, hiểu được điều nay thì không còn đau khổ nữa, chấp nhận điều này thì đó là một sự “giải thoát”.
Thế nên, trong bài thuyết pháp cuối cùng trước khi chết (nhập diệt). Thích Ca giảng về cách tu tập cho đệ tử ngắn gọn chỉ còn “Niệm”; “Định” và “Tuệ”. Về cơ bản tôi hiểu rằng: đối với một việc nào để có được cái nhìn đúng (thấy bản chất thực của nó) hoặc nói khác là có “chánh niệm” thì cần có “trí tuệ”. Tuy nhiên, thực hành chánh niệm là một việc khó. Bởi chúng ta thường thiếu “tập trung” trong bất cứ việc gì. Ví dụ như: khi chúng ta đi uống cà phê, thì không phải uống cà phê mà còn để bàn việc, để nói chuyện, để ngắm cô gái ngồi bàn bên cạnh. Sự thiếu tập trung này, chúng ta gọi là “thư giãn” hay “ xả stress”.
Khi tôi hiểu chánh niệm với nghĩa là “tập trung” , là “chuyên môn hóa” tôi nghĩ lại về “thiền”. Tôi hiểu thêm rằng thiền không còn là ngồi yên để nghĩ về một điều gì đó hoặc điều hòa hơi thở nữa. Tôi hiểu thiền cần có chánh niệm. Do vậy trong bất cứ việc gì, thì cái mình cần đạt được là chánh niệm.

Thêm một chút kiến thức về thiền của bác Nguyễn Văn Hiến comment trên fb:

Nếu phân biệt chi tiết thì có 3 phương pháp “vệ sinh tinh thần”:
1 – Thiền định / Thiền chỉ: Phương pháp này tập trung vào 1 điểm duy nhất bên ngoài, rèn luyện định lực để tâm khỏi tán loạn. Ví dụ như tập trung vào màu đỏ, hình phật…. Có thể nói tác dụng của nó là đè nén để tham, sân, si không thể khởi lên. Ví dụ: với một người bình thường khoảng thời gian xuất hiện của suy nghĩ thứ nhất với suy nghĩ thứ 2 là 3 giây, thì sau khi thực hiện định tâm thì khoảng thời gian này nới rộng ra, nới rộng cho đến khi không còn 1 suy nghĩ nào xuất hiện trong đầu nữa thì đạt đến CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC, nghĩa là nhìn thấy sự rỗng lặng của tâm mình. Phương pháp thiền định của người Ấn Độ có 8 tầng, gọi là TỨ THIỀN BÁT ĐỊNH. Khi đạt đến tầng thứ 5 trở lên, người Ấn gọi là trạng thái hòa nhập vào ̣́Brahma. Nghĩa là mình và Thượng Đế hòa nhập cùng là một Tâm, không phân biệt.
2- Thiền Tuệ / Thiền Quán: Đây chính là phương pháp thiền của Phật giáo. Đức Phật trước khi giác ngộ, ngài đi học thiền với các thầy ngoại đạo và đạt đến mức thiền định thứ 8. Và ngài cảm thấy rằng, ́chỉ khi ở trong trạng thái thiền định ngài cảm thấy rất an lạc, tự tại; nhưng sau khi xuất thiền thì Ngài thấy Tham Sân Si trong tâm ngài vẫn còn hiện diện. Và sau đó, tự mình Ngài tìm ra phương pháp Thiền Tuệ, đó là phải nhìn thấy mọi thứ ngoài Niết Bàn đều là Khổ, Vô Thường, Vô Ngã. Lấy một ví dụ để so sánh Thiền Định và Thiền Tuệ, ta có một chén đừng đầy dầu ăn, rồi ta đổ hết dầu ăn đi, dầu ăn tuy hết nhưng vẫn còn dính trong chén. Do đó, với thiền định của ngoại đạo dù đạt đến tầng thiền thứ 8 vẫn còn bị luân hồi.
3- Yoga hay khí công: Yoga hay khí công thì hoàn toàn khác với thiền định lẫn thiền tuệ, nó là một phương pháp dùng tinh thần và các tư thế để kiểm soát các nguồn năng lực bí ẩn, các kinh mạch, các luân xa bên trong cơ thể, làm cho tinh thần an lạc, sảng khoái hơn. Nổi tiếng nhất phải nói đến các phương pháp khí công của người Tây Tạng như, phương pháp Nội Nhiệt Tummo của người Tây Tạng dùng để điều chỉnh thân nhiệt khi nhiệt độ trời quá lạnh. Các phương pháp Yoga của Ấn thì dùng một loạt các tư thế để kích hoạt các trung tâm lực bí ẩn bị nghẽn, khi các trung tâm lực này được khai thông thì con người có sinh lực tràn trề, tinh thần hưng phấn.

Chuyên mục:CÁ NHÂN Tags:
  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: